Thông báo đấu giá quyền sử dụng đấtCV số 383/VNCERT-ĐPƯC V/v phát hiện, ngăn chặn mã độc "đào" tiền ảo bất hợp pháp
ĐẤU THẦU - MUA SẮM CÔNG
VĂN BẢN MỚI
Bình chọn
  • Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?   Phong phú đa dạng
      Dễ sử dụng
      Hữu ích
SỐ LƯỢT TRUY CẬP
 Bản in     Gởi bài viết  
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO NĂM 2016 
       Ngày 18/11/2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua với kết quả 84,58% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 và thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.
            Luật Tín ngưỡng tôn giáo đã thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, một lần nữa khẳng định chủ trương chính sách nhất quán của Đảng, pháp luật của nhà nước về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; khắc phục những bất cập, tồn tại của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành. Là cơ sở pháp lý quan trọng để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước nhằm tạo sự thông thoáng, minh bạch, tạo cơ chế pháp lý nhằm tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, cải cách hành chính đối với lĩnh vực này. Đồng thời củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng đời sống tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo được xây dựng bao gồm 9 chương với 68 điều, quy định các nội dung sau:

Chương 1: Những quy định chung

Chương 2: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Chương 3: Hoạt động tín ngưỡng

Chương 4: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo

Chương 5: Tổ chức tôn giáo

Chương 6: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo

Chương 7: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo

Chương 8: Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Chương 9:  Điều khoản thi hành.

Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo có 15 điểm mới căn bản so với Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2004 (gọi tắt là Pháp lệnh), trong đó nổi bật là các điểm mới:

1. Mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo từ “công dân” thành “mọi người”. Đây là điểm mới quan trọng nhất, thể hiện cách nhìn nhận thực tế, trách nhiệm, đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề nhân quyền, cụ thể là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, việc mở rộng chủ thể như vậy là phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn công tác về tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay.

2. So với Pháp lệnh, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo đã dành một chương riêng để quy định quyền về tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh cũng như thể hiện và khẳng định nhất quán chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đảm bảo quyền của mọi tổ chức, cá nhân (bao gồm cả người nước ngoài) khi tham gia các hoạt động của tổ chức tôn giáo.

3. Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, trước đây đăng ký sinh hoạt tôn giáo được xem là một mốc khởi điểm để bắt đầu hình thành một tổ chức tôn giáo thì nay Luật xem sinh hoạt tôn giáo tập trung nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của mọi người; sinh hoạt tôn giáo tập trung không được xem là mốc khởi điểm để tiến tới được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận về tổ chức.

4. Công nhận tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo. Đây là quy định mới quan trọng nhằm xác định rõ địa vị pháp lý của tổ chức tôn giáo, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo khi tham gia các quan hệ pháp luật; phù hợp với xu thế quản lý trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn hoạt động của các tổ chức tôn giáo.

5. Bổ sung quy định cho phép người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; được tổ chức tôn giáo Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; được tập trung sinh hoạt tôn giáo riêng tại cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam; được mời chức sắc, nhà tu hành là người Việt Nam hoặc người nước ngoài giảng đạo.

Ngoài 5 điểm mới nêu trên, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo còn có những điểm mới cần lưu ý là: Mở rộng các hoạt động của tổ chức tôn giáo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan; khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia sâu vào các  hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo. Luật cũng phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, xác định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về trách nhiệm của công dân, của người có tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hiện pháp Luật về Tín ngưỡng, Tôn giáo…

Để Luật tín ngưỡng, tôn giáo đi vào đời sống đòi hỏi các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện, đặc biệt là cơ quan làm công tác tôn giáo kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng tôn giáo đến tận cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn huyện.

 

                                                Đặng Thị Thu Thủy

[Trở về]